Phương Pháp Dùng Lời- Phương Pháp Trò Chơi Giúp Phát Triển Ngôn Ngữ Ở Trẻ Em

1. Phương pháp dùng lời

Đàm thoại là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa cô giáo và các cháu. Đàm thoại được sắp xếp mang tổ chức, sở hữu kế hoạch nhằm mục tiêu đi sâu, làm cho cho chính xác và hệ thống đa số các biểu trưng và hệ thống tất cả những biểu tượng và kiến thức mà các em thu lượm được. Do đó, đàm thoại thích ứng với tâm lí của trẻ. Đàm thoại được tiến hành nhẹ nhàng, thoải mái và tự nhiên, đáp ứng được yêu cầu của trẻ Đàm thoại có thể được bắt đầu với trẻ 3- 4 tuổi. Với lớp bé, đàm thoại cần tiến hành riêng với từng trẻ. Câu hỏi cần đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ lứa tuổi. Không nên biến đàm thoại thành buổi nhồi nhét kiến thức. Mục đích của đàm thoại là củng cố và hệ thống hóa bằng công cụ ngôn ngữ tất cả những gì trẻ thu nhận được.

           Cô sử dụng lời nói mẫu khi chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ý nghĩ của mình, hay nói rõ hơn có nghĩa là sử dụng mẫu câu, ngôn bản dùng để diễn đạt. Lời nói mẫu còn sử dụng để củng cố nhắc lại, chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn. Cần lưu ý sao cho số lượng câu trong mẫu phải ưng ý mang khả năng chú ý và trí tưởng của trẻ.

          Nói mẫu được sử dụng rộng rãi ở nhà trẻ và trường mẫu giáo (đặc biệt là ở nhà trẻ) trong mọi hình thức dạy. Khi sử dụng việc nói mẫu, cô giáo phải chú ý không nhắc lại cái sai của trẻ   

         Giảng giải là biện pháp cô giáo dùng lời lẽ của mình để giải thích cho trẻ hiểu về bản chất, đặc điểm… của một vật hoặc một hành động nào đó. Cô sử dụng những từ trẻ đã biết để giải nghĩa những từ trẻ chưa biết. Cách làm này thường được sử dụng trong việc phát triển vốn từ. Giảng giải phải rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, không sử dụng những từ, câu trẻ không hiểu và nói quanh quẩn. Giảng giải nên sử dụng khi nào trẻ không hiểu hoặc chưa hiểu rõ ý nghĩa, nội dung của từ, câu câu chuyện…

Hình ảnh: Phương pháp dùng lời

          Chỉ dẫn là cách thức giáo viên dùng lời đề cập để chỉ cho trẻ biết bí quyết khiến và cách đạt được kết quả cuối cộng của công việc.  Khi nói, cô có thể cùng làm để cho trẻ xem cách làm, nhất là đối với trẻ bé.

         Nhắc nhở là lời gợi ý cho trẻ khi trẻ gặp khó khăn nhất là đối với trẻ bé, trẻ còn hay quên, hoặc vốn từ còn hạn chế. Trẻ làm sai yêu cầu của cô, thì cô nhẹ nhàng nói cho trẻ hiểu. Tránh quát mắng làm trẻ sợ hãi, dễ gây nên sự mất tự tin ở trẻ.

       Đánh giá nhận xét lời nói của trẻ, khen ngợi, tuyên dương… là lời nói của cô về câu trả lời, về nhận thức và kĩ năng của trẻ.  Đối với trẻ bé cần động viên, khuyến khích và khen ngợi tuyên dương khi trẻ làm tốt. Tránh chế bại trước mặt trẻ, làm trẻ ngượng và dễ tự ti.

       Sử dụng câu hỏi: Câu hỏi áp dụng với trẻ có nhiều kiểu khác nhau. Để hướng sự để ý của trẻ đến việc nhận thức đối tượng, cô thường sử dụng những cái câu hỏi: Cái gì đây, con gì đây, như thế nào, ở đâu, đi đâu, có bao nhiêu… Có các câu hỏi tìm kiếm, đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ và có kế luận, nhận xét về hiện tượng đó như: để làm gì, tại sao…

       Trong trường mầm non, cô giáo thường đặt câu hỏi kết hợp với trực quan. Trực quan là cơ sở của nhận thức, còn phương pháp dùng lời là tổ chức cho việc nhận thức tích cực, tổ chức việc tìm kiếm lời nói phù hợp hơn. Ví dụ: tả con mèo, cô giơ tranh con mèo cho trẻ xem, đặt câu hỏi về con mèo cho trẻ nhận thức và trả lời, sau đó cô dựa vào câu giải đáp của trẻ để đặt thành 1 câu chuyện ngắn.

       Đọc thơ (ca dao, tục ngữ, đồng dao…) cho trẻ nghe: thơ, ca dao, đồng dao.. được sử dụng hát ru từ khi trẻ còn rất nhỏ. Lời thơ, ca dao…..mang tính nhịp độ cao, với vần điệu. Vì vậy, khi đọc thơ, ca dao, đồng dao.. cần đọc chậm rãi vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từ mang vần.Cần truyền đạt được âm điệu vui tươi, sảng khoá tới với trẻ. Đọc thơ, ca dao, đồng dao… giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp độ của tiếng Việt. Đối với các bài thơ có thể giải thích một vài từ khó, hoặc từ xa lạ đối với trẻ.

           Kể và đọc truyện là cách thông dụng giúp trẻ làm quen với văn học. Trong khi kể cô giáo phải đảm bảo được nội dung chính của cốt truyện, các tình tiết của truyện. Kể chuyện được linh hoạt ở chỗ người kể có thể sử dụng một vài từ hoặc câu văn của mình trong lúc kể. Còn khi đọc truyện là cô đọc lại y nguyên một câu chuyện có sẵn. Khi đọc kể chuyện cô phải thể hiện được tình cảm, sử dụng ngữ điệu giọng nói để bộc lộ được đặc điểm tính cách nhân vật. Đọc kể phải chậm rói vừa phải để trẻ còn lắng nghe được các từ ngữ, câu văn trong truyện. Vừa kể cô vừa kết hợp làm một vài động tác minh họa nhẹ nhàng. Trước khi đọc cô đưa truyện tranh cho trẻ xem, sau đó cô dùng lời tả lại tranh, giúp trẻ xác lập mối liên hệ giữa các sự kiện, hành động của nhân vật trong tranh. Khi kể, cô vừa kể chuyện vừa cho trẻ xem tranh minh họa. Trẻ càng bé thì yếu tố minh họa trong lúc kể chuyện càng cần thiết.

2. Phương pháp trò chơi

        Trò chơi chiếm giữ 1 vị trí quan yếu trong những hoạt động giáo dục ở trường mầm non. Ví dụ: trò chơi luyện phát âm: ngửi hoa, thổi bóng… các trò chơi để phát triển vốn từ : Chiếc túi kỳ diệu, cái gì biến mất… các trò chơi phát triển kỹ năng nói mạch lạc, giao tiếp ngôn ngữ có văn hóa như các trò chơi đóng vai có chủ đề: mẹ và con, bán hàng, cô giáo, bác sĩ khám bệnh… Kết quả của việc sử dụng các trò chơi để phát triển lời nói cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tìm tòi, sáng tạo của cô giáo. Có nhiều trò chơi có sẵn, cũng có thể cần đến sự sáng tạo của cô tạo ra các trò chơi mới để phục vụ cho mục đích dạy học.

This Post Has 3 Comments

  1. Some truly nice and utilitarian info on this site, likewise I believe the pattern contains great features.

Trả lời