Hoạt Động Thần Kinh Cao Cấp Ở Người

1. Hai hệ thống tín hiệu là đặc điểm đặc trưng cho hoạt động thần kinh cao cấp ở người

Một vật kích thích nào ấy đại diện cho 1 vật kích thích khác để gây ra một phản ứng nào ấy của thân thể thì được gọi là  tín hiệu của vật kích thích ấy.

      Ví dụ: Trong thí nghiệm thành lập phản xạ có điều kiện tiết nước bọt khi có ánh đèn ở chó, thì ánh đèn là đại diện cho thức ăn và nó là tín hiệu của thức ăn.

      Có hai loại tín hiệu

– Tín hiệu cụ thể (tín hiệu trang bị nhất): là những sự vật, hiện tượng cụ thể trực tiếp (như ánh sáng, nhiệt độ, màu sắc…).

    – Tín hiệu ngôn ngữ (tín hiệu thứ hai): là những vật kích thích có tính chất khái quát, gián tiếp (đó là lời nói, chữ viết).

    – Các tín hiệu này khi tác động vào các giác quan sẽ gây ra trên vỏ não những đường liên hệ thần kinh tạm thời.

 Hệ thống những dường liên hệ thần kinh tạm thời được thành lập do sự tác động của các tín hiệu thứ nhất cùng với các tín hiệu đó được gọi là hệ thống tín hiệu số 1.

Hệ thống các đường shop thần kinh tạm bợ được thành lập do sự tác động của những tín hiệu trang bị hai cộng sở hữu những tín hiệu đó được gọi là hệ thống tín hiệu vật dụng hai hay ngôn ngữ.

Hệ thống các đường shop thần kinh tạm bợ được thành lập do sự tác động của những tín hiệu trang bị hai cộng sở hữu những tín hiệu đó được gọi là hệ thống tín hiệu vật dụng hai hay ngôn ngữ.

     Ngôn ngữ là một vật kích thích có điều kiện như mọi vật kích thích có điều kiện khác (nghĩa là ta có thể dùng ngôn ngữ để thành lập phản xạ có điều kiện) Chẳng hạn, chỉ cần nói đến từ “chanh” là ta cũng đủ chảy nước bọt rồi.

      Ngôn ngữ chỉ đặc trưng cho người. Điều này rất quan trọng, vì tiếng nói đối với người có một giá trị tín hiệu mà các con vật khác không thu nhận được. Ở người, ngôn ngữ là một âm thanh (nếu là ngôn ngữ nói), hay là một hình ảnh cụ thể (nếu là ngôn ngữ viết. Còn con vật chỉ phản ánh lại ngôn ngữ với những tính chất vật lí của nó… mà không thể phản ứng với nội dung, khái niệm chứa trong ngôn ngữ. Chẳng hạn từ “chanh” ở người sẽ có phản xạ tiết nước bọt, còn ở chớ chỉ có phản xạ định hướng quay về phía có tiếng nói.

      Ngôn ngữ hay còn được gọi là tín hiệu của tín hiệu. Chẳng hạn, trong thí nghiệm của việc thành lập phản xạ có điều kiện bật đèn chó tiết nước bọt: ánh đèn (vật cụ thể) đại diện cho thức ăn (vật cụ thể). Paplốp gọi đó là “tín hiệu của sự vật” hay “tín hiệu loạt 1” Ở người, tiếng “đèn” dại diện cho đèn thật và ánh đèn thật đại diện cho thức ăn. Do đó, Paplốp gọi ngôn ngữ là “tín hiệu của tín hiệu” hay “tín hiệu loạt 2”.

        So với hệ thống tín hiệu thứ nhất thì hệ thống tín hiệu thứ hai có đặc điểm nổi bật là có khả năng trừu tượng hoá và khái quát hoá các sự vật và hiện tượng xảy ra ở thế giới bên ngoài cũng như ở bên trong cơ thể chúng ta. Vì vậy, hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở của tư duy ở người.

        Ở người, hai hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai có liên hệ chặt chẽ với nhau trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế. Hệ thống tín hiệu thứ hai được xây dựng trên cơ sở hệ thống tín hiệu thứ nhất và nó ảnh hưởng trở lại đối với hệ thống tín hiệu thứ nhất. Vì vậy, muốn nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan chỉ bằng cách tác động qua lại chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai. Trong giáo dục và chăm sóc trẻ, muốn đạt hiệu quả cao cần phải kết hợp chặt chẽ giữa lời nói với các biểu tượng trực quan.

2. Sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai trong quá trình phát triển cá thể của con người

2.1. Hoạt động phản xạ ở trẻ

Hình ảnh: Phản xạ

Trẻ ra đời với một vốn liếng nghèo nàn các phản xạ không điều kiện (như phản xạ bú, mút, chớp mắt….) nhưng khi ra đời não bộ của trẻ đã sẵn sàng chuẩn bị hình thành những liên hệ tạm thời và có những cơ sở của mọi nhân tố của một phản xạ đã hoàn toàn chín muồi. Những phản xạ mang điều kiện trước tiên có thể được hình thành vào ngày trang bị 5, 6 hoặc thiết bị 10 của đời sống dựa trên cơ sở của những phản xạ không điều kiện ăn uống. Những phản xạ này là các phản xạ mang điều kiện khi không vì sở hữu dấu hiệu kích thích tự nhiên. Chẳng hạn, khi nhìn thấy bầu sữa mẹ, trẻ có phản xạ tiết nước bọt sau 15 ngày sau khi sinh. Ở trẻ có thể ra đời được các phản xạ mang điều kiện về tư thế của thân. Sau này ở trẻ bắt đầu xuất hiện những phản xạ với điều kiện nhân tạo.

Ví dụ: Phản xạ với những kích thích là mùi xuất hiện sớm nhất, thường là vào cuối tháng thứ nhất: phản xạ với những kích thích âm thanh thì xuất hiện vào cuối tuần thứ 3 và bền vững vào lúc trẻ khoảng 15 tháng: phản xạ với những kích thích ánh sáng xuất hiện vào những ngày đầu của tháng trang bị 2 và vững bền vào cuối tháng vật dụng 2.

Trong những năm đầu của trẻ diễn ra sự hình thành và phát triển của hệ thống tín hiệu thứ hai. Giai đoạn trước 3 tuổi là giai đoạn hợp lý cho sự hình thành ngôn ngữ của trẻ.

|     Trẻ được từ 3 – 5 tuổi. phản xạ định hướng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hệ thống tín hiệu thứ hai ngày càng có vai trò ưu thế.Đặc biệt ở trẻ 4 – 5 tuổi, các phản xạ có điều kiện lúc được củng cố bằng kích thích ngôn ngữ và kích thích tự vệ thi hình thành dễ dàng hơn so sở hữu củng cố bằng thức ăn.

     – Ở trẻ 5 – 6 tuổi, cường độ và tính linh hoạt của các giai đoạn thần kinh nâng cao lên. Trẻ 6 tuổi mang thể tập hợp để ý vào một đối tượng nhất quyết trong thời gian 15 – 20 phút, Đồng thời, ở lứa tuổi này, vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hại càng tăng lên. Tư duy bằng từ càng tăng, tiếng nói bên trong xuất hiện. Chức năng khái quát hoá của từ đã có bước nhảy vọt và gần như ở người lớn. Chỉ khác với người lớn ở chỗ sự khái quát hoá được thực hiện theo hành động với đồ vật. Ví dụ cốc là “cái dùng để uống”.Từ 6 tuổi trẻ có thể học đọc và học viết được Sang đến 7 tuổi, ở trẻ đã xuất hiện khả năng duy trì chương trình hành động và dự kiến trước được kết quả của hành động ở những giai đoạn tiếp theo hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ tiếp tục được phát triển và nâng cao về chất lượng, số lượng.

2.2. Sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai ở trẻ

6 tháng sau của năm đầu. ở trẻ đã xuất hiện những phản xạ có điều kiện với kích thích ngôn ngữ, nhưng những kích thích này thường tác động phối hợp với những kích thích khác như hoàn cảnh xung quanh, tư thế thân mình, nét mặt, nụ cười… Do đó, bản thân kích thích chỉ có thể gọi là kích thích ngôn ngữ có điều kiện vì trẻ không phân biệt được từ ngữ với những nghĩa tư duy của từ ngữ. mà chỉ phân biệt được cao độ và âm sắc của tiếng nói và giọng nói. Lúc này, nếu thay đổi hoàn cảnh và hình dáng của người nói sẽ gây ức chế phản ứng. Ví dụ, nếu mẹ hỏi trẻ “bố đâu” thì nó đã biết quay đầu về phía bố, nhưng người lạ hỏi thì trẻ không phản ứng gì.

      Khi trẻ được 7, 8 tháng khởi đầu xuất hiện ngôn ngữ trực tiếp. Ví dụ: khi được hỏi “mẹ đâu” thì trẻ quay đầu hoặc chỉ tay về phía mẹ. Đến khi trẻ bập bẹ biết nói thì khi nhìn thấy mẹ nó sẽ gọi “mẹ”. Như vậy, ở trẻ đã xuất hiện được mối liên hệ ” trực tiếp- ngôn ngữ”.

       Vào lúc 1,5 tuổi trẻ có thể giao tiếp với những người xung quanh bằng ngôn ngữ nhờ sự giúp đỡ của người lớn. Dần dần vốn từ của trẻ được nâng cao lên 1 cách nhanh chóng. Đến 3 tuổi vốn từ của trẻ khá phong phú, có thể đạt tới 1000 từ và sự phát âm các từ của trẻ tương đối chính xác. Trẻ 4 tuổi ngôn ngữ của chúng phát triển phong phú vì có thêm các từ mới. Do đó. số lượng các khái niệm được chúng lĩnh hội cũng tăng lên. trẻ nói đúng ngữ pháp hơn. Trẻ từ 5 – 7 tuổi có vốn từ khá nhiều và chúng có thể dùng ngôn ngữ để đáp lại ngôn ngữ. Như vậy, khi này ở trẻ đã xuất hiện mối cửa hàng “ngôn ngữ – ngôn ngữ”.

This Post Has One Comment

  1. Thanks for sharing excellent informations. Your web-site is so cool. I am impressed by the details that you’ve on this website. It reveals how nicely you perceive this subject. Bookmarked this website page, will come back for more articles. You, my pal, ROCK! I found just the information I already searched all over the place and simply couldn’t come across. What a perfect website.

Trả lời