Các Giai Đoạn Phát Triển Của Khoa Học Phát Triển Ngôn Ngữ Trẻ Em

Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của chúng ta đã có từ rất lâu đời nhưng nó chỉ được giảng dạy ở trong hệ thống nhà trường Việt Nam, sau khi nước nhà giành được độc lập (1945). PPPTNNTE là bộ phận của chuyên ngành phương pháp dạy học tiếng Việt (PPDHTV).

Có thể chia ba mốc như sau:

  1. Giai đoạn 1 từ 1945 – 1960
    Số người nghiên cứu và các công trình nghiên cứu tiếng Việt còn ít (năm 1956. Ngữ pháp Nguyễn Lân – dạy ở cấp II). Chủ yếu tiếng Việt được dạy chuẩn y bộ môn văn học. Có thể nói chưa hình thành khoa học Việt ngữ học. Đương nhiên ngành PPDHTV cũng vì thế mà chưa xuất hiện.
  2. Giai đoạn 2 vào khoảng những năm của thập kỷ 70 – 80
    Các thành tựu nghiên cứu về tiếng Việt đã tương đối phong phú. Việc giảng dạy ngôn ngữ và tiếng Việt ở hệ thống các trường đại học, cao dẳng sư phạm (ĐH, CĐSP) và một số trường ĐH tổng hợp… đã được nâng cao chất lượng. Ở trường phổ thông, môn học tiếng Việt dần dần được hình thành và phát triển. Nhiệm vụ của môn tiếng Việt được quan niệm là cung cấp cho học sinh các tri thức khoa học về tiếng Việt và thực hành các tri thức này nhằm sử dụng tốt tiếng Việt. Bộ môn PPGDTV chưa hình thành. Việc dạy tiếng Việt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cảm tính.
  3. Giai đoạn 3
    Yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt ngày một cao đòi hỏi chuyên ngành PPDGTV ra đời. Bắt đầu bằng các hội nghị, hội thảo về nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt, các bài báo đăng ở các báo, tạp chí. (Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp 1 – Phan Thiều, dạy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo – Tạ Thị Ngọc Thanh (1979 – 1980) Những công trình này vẫn còn nặng về kinh nghiệm mang tính vận dụng.

Năm 1982, đánh dấu một bước phát triển của việc dạy tiếng Việt trường học. Hội nghị khoa học về dạy tiếng Việt trong nhà trường tại trường DHSP Hà Nội I đã đặt vấn đề xây dựng chuyên ngành PPGD V thành một khoa học độc lập. Hội nghị vạch ra phương hướng nhu cầu xây dựng chuyên ngành này và dự thảo chương trình PPGDTV để dạy ở Khoa Ngữ văn các trường sư phạm.

Từ năm 1983, Bộ Giáo dục quyết định đưa PPGDTV vào chương trình đào tạo của Khoa Ngữ văn các trường SP. Các khoa giáo dục tiểu học giáo dục mầm non (GDMN) ngay từ khi thành lập đã có trong chương trình đào tạo môn học PPPTNN (ở trường sư phạm mầm non) và PPGDTV (ở trường sư phạm tiểu học). Hiện tại, PPGDTV đã trở thành một chuyên ngành khoa học phát triển ở các trường ĐH, CĐSP có các tổ bộ môn (hay nhóm chuyên môn) PPGDTV. Đào tạo sau đại học đã có những luận văn cao học, luận án tiến sĩ về PPGDTV.

Ở các trường SP mẫu giáo, do ảnh hưởng của giáo dục học Liên xô người ta đã sớm đưa vào chương trình đào tạo giáo viên mẫu giáo môn học PPPTNN (ở trưởng mẫu giáo) từ những năm cuối thập kỷ bảy mươi thế kỷ trước.

PPPTLNTE được nghiên cứu rất kỹ lưỡng ở Liên xô với nhiều nhà sư phạm nổi tiếng. Những công trình này đã vào Việt Nam tương đối sớm. Giáo viên và sinh viên các trường đào tạo giáo viên mầm non đã biết đến E.I. Chikhiêva, một nhà sư phạm Nga – Xô viết như 1 tác giả sở hữu uy tín nghiên cứu về vững mạnh tiếng nói cho trẻ cái giáo. Cuốn sách Phát triển ngôn ngữ trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông của bà đã được dịch từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước và được coi như một tài liệu giảng dạy chính trong những trường sư phạm mẫu giáo Việt Nam. Nhiều tác giả Nga khác mà chúng ta biết đến cũng có đóng góp quan trọng vào việc hình thành chuyên ngành PPPTLNTE ở nước ta. Có thể kể đến các tác giả: Xôkhin với các tác phẩm “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” (Nxb Giáo dục Mat xcơva, 1979). Những cơ sở tâm lý – giáo dục học của việc phát triển lời nói trẻ em (Matxcơva, 2002), Barodis A.M. với cuốn Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em (Nxb Giáo dục Mat xcơva, 1974), các tác giả Phedorenko L.P, Phomitreva G.A., Lomarep VK. cũng có những cuốn sách tương tự, Bogolupxcaia M.K. và Tsepsenko V V. với đọc và đề cập chuyện văn học ở vườn trẻ….

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, chúng ta đã có những cuốn giáo trình đầu tiên về PPPTLN trẻ em được sử dụng trong các trường đào tạo giáo viên mầm non. Tập thể tác giả Lương Kim Nga, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuốn Tiếng Việt, văn học và phương pháp giáo dục (Nxb Giáo dục Hà Nội, 1988), Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng với giáo trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em (TTNC đào tạo và BD giáo viên, Hà Nội, 1993); Nguyễn Xuân Khoa với tác phẩm Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 (Có thể coi đây là cuốn giáo trình đại học đầu tiên ở nước ta nghiên cứu về lĩnh vực này). Hà Nguyễn Kim Giang với các tác phẩm: Kể sáng tạo truyện cổ tích cho trẻ mẫu giáo (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999), Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002)…

Ngày nay, ngày càng có nhiều người nghiên cứu về phát triển lời nói trẻ em. Bùi Kim Tuyến với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Xây dựng nội dung biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo “(mã số B 98- 49- 59). Một số luận văn, luận án về PTNN ở trường mầm non các luận án tiến sĩ Lưu Thị Lan – “Những bước phát triển của ngôn ngữ trẻ mẫu giáo”, Hà Nguyễn Kim Giang “Phương pháp kể sáng tạo truyện cổ tích thần kỳ cho trẻ mẫu giáo”. Nguyễn Thị Oanh – “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn”, Hồ Lam Hồng. “Những đặc điểm tâm lý trong hoạt động kể chuyện của trẻ mẫu giáo”, Trương Thị Kim Oanh. “Một số biện pháp tổ chức hướng dẫn chơi giúp trẻ dân tộc thiểu số nói tiếng Việt”, Võ Phan Thu Hương. “Biện pháp dạy trẻ 5-6 tuổi nói đúng ngữ pháp”, Phan Thị Lan Anh “Sử dụng trò chơi để phát triển khả năng tiền đọc viết cho trẻ mầm non… một số luận văn thạc sĩ: Đỗ Thị Xuyến – “Một số biện pháp nâng cao mức độ hiểu từ của trẻ từ 5 – 6 tuổi” (1998) ; Lê Thị Xoa – “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (1998), Hoàng Thị Hồng Mát: ” Dạy trẻ 5-6 tuổi kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc” (2001), Huỳnh Ái Hồng: “Một số biện pháp dạy trẻ kể truyện theo chủ để nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh” (1997), Ân Thị Hảo: “Một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện văn học nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc” (2003), Nguyễn Lệ Thương: Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hiểu nghĩa từ trong tác phẩm văn học (2004). Nhiều khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Khoa Giáo dục mần non trường ĐHSP Hà Nội cũng là kết quả của nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em và các phương pháp biện pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em. Nhìn chung những công trình nghiên cứu này dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ em Việt Nam, đưa ra các phương pháp biện pháp cụ thể phù hợp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đó là những đóng góp quan trọng trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn thúc đẩy sự phát triển của chuyên ngành phương pháp phát triển lời nói trẻ em ở nước ta.

Trả lời